SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG, NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP, NHIỆM KỲ 2020-2025 VÀ NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG, NHẤT LÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC XÂY DỰNG ĐẢNG

Đọc bài viết 0:00

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là lựa chọn mang tính lịch sử, là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại mang tầm vóc lịch sử, có ý nghĩa to lớn, phù hợp thực tiễn Việt Nam, quy luật, xu thế phát triển chung của thời đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; độc lập, chủ quyền quốc gia và môi trường hòa bình  được giữ vững, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế ngày càng phát triển, quốc phòng - an ninh được bảo đảm vững chắc, đời sống mọi mặt của Nhân dân không ngừng được nâng cao. Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng, hiện thực hóa khát vọng, ý chí của toàn Đảng, toàn dân xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, tỉ lệ lạm pháp có lúc lên đến 774,7%, đời sống Nhân dân khó khăn. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trung bình khoảng gần 7% mỗi năm. Nước ta từ một nước nghèo nàn, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng, quy mô và sự phát triển của nền kinh tế đạt được ở mức cao, từ năm 1986 đến năm 2023 đạt bình quân đạt mức 6,55%/năm. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 vươn lên lọt vào Top 40 nền kinh tế hàng đầu, có quy mô thương mại trong Top 20 quốc gia trên thế giới, mắt xích quan trọng trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) gắn kết với 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Tổng sản phẩm nội địa bình quân đầu người năm 2025 gần gấp 25 lần sau ba thập kỷ.

Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% tổng sản phẩm nội địa. Nông nghiệp phát triển, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo. Mức đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn hơn, giai đoạn 2011-2015 là 34,75%, giai đoạn 2016-2020 là 46,04%, giai đoạn 2021-2023 là 37,61%.

Lĩnh vực văn hóa có bước phát triển, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ngày càng được nâng cao; cùng với đó, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa ngày càng được củng cố. Tính đến ngày 18/01/2024, cả nước có 294 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia và được bảo quản tại hệ thống bảo tàng trên cả nước cùng với hơn 4 triệu hiện vật khác. Đến nay, gần 8.000 lễ hội được lưu truyền gắn với các tín ngưỡng dân gian, phong tục, tập quán, nghệ thuật trình diễn dân gian, trò chơi dân gian, các làng nghề thủ công truyền thống ở khắp các vùng, miền trên cả nước.

Hệ thống thiết chế văn hóa tiếp tục được quan tâm đầu tư, đời sống văn hóa của Nhân dân ngày càng phong phú. Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được quan tâm. Chính phủ đã ban hành các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, từng bước tăng cường đầu tư nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di sản văn hóa; ban hành Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030…

Hệ thống giáo dục tiếp tục phát triển từ cấp mầm non đến đại học; quy mô, mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của người dân. Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2017, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010. Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn có chuyển biến tốt, được thế giới ghi nhận. Giáo dục thường xuyên phát triển đa dạng về nội dung và hình thức. Đổi mới giáo dục đại học gắn với tăng cường tự chủ được triển khai, đào tạo gắn kết hơn với nhu cầu thị trường lao động; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ được đẩy mạnh; công bố khoa học quốc tế tăng mạnh, xuất hiện ngày càng nhiều hơn cơ sở giáo dục đại học và nhóm ngành đào tạo xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới.

Phát triển con người Việt Nam đạt được nhiều thành tựu về tầm vóc, thể lực và trình độ. Các chỉ số hạnh phúc (HPI), chỉ số phát triển con người (HDI), sức khỏe, tuổi thọ bình quân được cải thiện. Tuổi thọ trung bình của người dân không ngừng tăng lên, từ 62 tuổi năm 1990 lên 75 tuổi năm 2025.

Đảng và Nhà nước luôn chú trọng tới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra các chủ trương, chính sách nhằm chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân, coi sức khỏe của Nhân dân là trách nhiệm của tất cả các ngành, các đoàn thể, là trách nhiệm và lợi ích thiết thân của mỗi công dân.

Quy mô và năng lực cung ứng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân ngày càng được nâng cao. Hệ thống y tế các tuyến từ trung ương đến địa phương ngày càng được củng cố và phát triển. Các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu, y tế dự phòng, công tác kiểm soát bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm được đẩy mạnh.

Ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho Nhân dân ngày càng tăng. Xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho Nhân dân được đẩy mạnh và đạt được nhiều tiến bộ. Đến hết năm 2023, số bác sĩ trên 10.000 dân đạt 12,5 bác sĩ. Số giường bệnh trên 10.000 dân đạt 32 giường bệnh. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 93,2% dân số. Tuổi thọ trung bình tăng từ 71,3 năm 2002 lên 73,7 năm 2023. Tỷ lệ dân số được quản lý sức khỏe trên 80%. Trạm y tế xã được triển khai từ năm 1985, đến năm 1995 cả nước không còn xã trắng về tiêm chủng. Việt Nam đã thanh toán hoàn toàn bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh vào năm 2005, bệnh sởi năm 2015.

Việt Nam đã cơ bản xây dựng được một hệ thống an sinh xã hội đồng bộ, nhất là các chính sách về tạo việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân; bảo hiểm xã hội, bù đắp phần thu nhập bị suy giảm khi đau ốm, tai nạn lao động, tuổi già; trợ giúp xã hội đột xuất và thường xuyên; cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, chính sách ưu đãi đối với người có công... Đây là những thành tựu tiên phong trong thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam đã được Liên hợp quốc công nhận, biểu dương.

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng đúng đắn, đầy đủ.

Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với 3 trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân ngày càng được củng cố và phát triển. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước lớn và là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một điểm sáng về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân; Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế...

Xây dựng Đảng về chính trị được coi trọng; xây dựng Đảng về tư tưởng tiếp tục được đẩy mạnh; xây dựng Đảng về đạo đức được đặc biệt quan tâm; xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ có nhiều đổi mới. Tổ chức cơ sở đảng được thiết lập hệ thống, sâu rộng trên tất cả các đơn vị cơ sở. Đội ngũ đảng viên có sự phát triển mạnh về số lượng, cơ cấu được cải thiện, chất lượng được nâng cao. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được đẩy mạnh, có nhiều đổi mới, có hiệu lực, hiệu quả. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt nhiều kết quả quan trọng, đột phá, toàn diện trên cả hai mặt “phòng” và “chống”. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị đã có nhiều đổi mới, phù hợp với cơ chế kinh tế và bối cảnh quốc tế mới.

Hệ thống chính trị được sắp xếp, đổi mới theo hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, sự vận động, phát triển của thực tiễn khách quan.

Đảng đã xây dựng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011). Tiến hành tổng kết sự lãnh đạo của Đảng, chỉ ra những thành công, khuyết điểm, hạn chế và nêu ra những bài học lớn. Đồng thời, chỉ ra xu thế phát triển của thế giới, đặc điểm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; nêu rõ các đặc trưng của xã hội - xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng: “... là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”4. Đảng nêu rõ phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và xác định mục tiêu tổng quát cách mạng Việt Nam khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Trên cơ sở tổng hợp kết quả từ lý luận và thực tiễn trong nước, tình hình và kinh nghiệm quốc tế, Đảng ta bổ sung, phát triển một số vấn đề lý luận - thực tiễn với những tư duy mới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là: (1). Mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (2). Có sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. (3). Chú trọng phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm. (4). Coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển. (5). Bản chất của nhà nước mới ở Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. (6). Đổi mới phương thức quản lý của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, hoàn thiện tổ chức của Nhà nước, mọi quyền lực tối cao đều thuộc về nhân dân, có sự thống nhất quyền lực và phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, coi trọng kiểm soát quyền lực Nhà nước; giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. (7). Khẳng định bản chất, tính cách mạng, tính tiên phong của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng trong mọi hoàn cảnh. (8). Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng được yêu cầu của cách mạng.

Cùng với đó, Đảng bổ sung, phát triển lý luận về bảo đảm quốc phòng, an ninh, coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt là bổ sung, phát triển lý luận, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy trên cơ sở xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đồng thời, hoàn thiện và nhận thức sâu sắc hơn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; coi lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Những thành tựu lý luận nổi bật của Đảng trong gần 40 năm thể hiện sự kiên định, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đây tiếp tục là cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế hàng đầu, có vị thế quan trọng trên trường quốc tế. Đạt được điều này là nhờ tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng những thành tựu lý luận về chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới đất nước.

Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế chưa từng có sau 40 năm đổi mới. Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động và phát triển nhanh chóng của khu vực và thế giới, với quy mô GDP tăng trưởng vượt bậc và thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể. Việt Nam đã phá thế bao vây, cô lập, mở rộng quan hệ đối ngoại với 193 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành một thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem Việt Nam như một điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo, là biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế. Những thành tựu này là nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập, xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Bài học kinh nghiệm: Có những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới, đó là kết quả tổng hòa của nhiều nhân tố, trong đó nổi bật là:

Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường. Đây là yếu tố cốt lõi, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vươn lên giành những thắng lợi vẻ vang. Tinh thần ấy được hun đúc từ lịch sử hào hùng của dân tộc, từ truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm. Tinh thần ấy được thể hiện rõ nét qua các phong trào thi đua yêu nước, qua sự nỗ lực không ngừng của mỗi người dân vì sự phát triển của đất nước.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đại đoàn kết là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc. Khối đại đoàn kết được củng cố và phát huy thông qua các chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội, sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19, tinh thần yêu nước, tương thân tương ái càng được thể hiện rõ nét, nhân dân cả nước chung tay ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn. Trong nhiều năm qua, chủ trương xây dựng nông thôn mới đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, từ đó bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi tích cực. Việc Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết sách đúng đắn, giúp Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế. Tất cả đều minh chứng cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân Việt Nam dần trở thành hiện thực.

Những nhân tố trên có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới. Đây là những bài học quý giá cần được trân trọng, phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Khát vọng mãnh liệt về độc lập, tự do, hạnh phúc là động lực thôi thúc toàn Đảng, toàn dân nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc. Khát vọng ấy được thể hiện qua các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, qua các chính sách chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Đổi mới đất nước là một quá trình tất yếu của lịch sử, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 40 năm qua, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất nước, xác lập mục tiêu phát triển trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đảng đã xác định rõ vai trò lãnh đạo và sứ mệnh của mình trong phát triển lý luận, đặc biệt là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Những thành tựu lý luận của Đảng ta trong 40 năm đổi mới đất nước là kết quả của quá trình không ngừng đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng ta đã từng bước xác định rõ hơn nội dung các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Đối với "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đây là một bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng, thể hiện sự vận dụng.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương đúng đắn của Đảng ta, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, chúng ta đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp và mục tiêu này được khẳng định tại nhiều đại hội tiếp theo. Tuy nhiên, đến nay, mục tiêu này chưa hoàn thành. Nền tảng công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa vững chắc. Năng lực tự chủ công nghệ của nhiều ngành công nghiệp chưa được cải thiện. Năng lực sản xuất của một số ngành công nghiệp quan trọng chậm được nâng lên. Công nghiệp phát triển thiếu bền vững, chủ yếu phát triển theo chiều rộng, vẫn ở khâu sản xuất gia công, lắp ráp, chế biến thô, giá trị gia tăng còn thấp, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn phát triển chậm; doanh nghiệp công nghiệp cơ khí, chế tạo chưa làm chủ được công nghệ nguồn, đổi mới máy móc thiết bị còn hạn chế.

Các nguyên nhân chủ yếu bao gồm:

- Nhận thức, lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa thực sự rõ; mô hình, mục tiêu, tiêu chí cụ thể về công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn nhiều nội dung chưa rõ, chưa sát thực tiễn, còn chủ quan, duy ý chí; chưa làm rõ phương thức thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao;

- Thiếu chiến lược, chương trình, đề án cụ thể dẫn đến khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; chưa lựa chọn được ngành công nghiệp ưu tiên để hỗ trợ phát triển trong từng giai đoạn;

- Chưa coi trọng và thiếu cơ chế, chính sách đủ mạnh, tập trung nguồn lực phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo có trọng tâm, trọng điểm để từng bước làm chủ công nghệ;

- Chưa tận dụng được các dự án FDI để chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp tư nhân trong nước tập trung chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, bất động sản…; ít đầu tư vào sản xuất công nghiệp. Chưa phát triển được doanh nghiệp tư nhân mạnh, đầu đàn, dẫn dắt chuỗi giá trị..

Từ thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém, đề xuất một số kiến nghị như sau:

- Tổ chức tốt việc thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững đất nước dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

- Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá, đặc thù, ưu tiên tập trung nguồn lực để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nắm bắt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

- Tập trung nguồn lực, có chính sách đặc thù vượt trội phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, các ngành công nghiệp mới nổi (chíp bán dẫn, AI, tự động hóa, năng lượng mới, vật liệu mới…); ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất một số ngành công nghiệp nền tảng.

- Có chính sách để tận dụng được các dự án FDI để chuyển giao công nghệ cho khu vực trong nước và hỗ trợ mạnh mẽ để hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, quy mô lớn, đầu đàn để dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước và mở rộng, tham gia thị trường toàn cầu.

Trong gần 40 năm qua, chúng ta đã bỏ lỡ một số cơ hội lớn để huy động nguồn lực, đẩy mạnh hội quốc tế sâu rộng, tăng tốc phát triển đất nước. Do nhiều lý do, nước ta ký kết Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2001, nếu đẩy nhanh hơn nữa, Hiệp định này có thể ký sớm hơn, ít nhất là 2 năm, từ năm 1999. Tương tự như thế, chúng ta cũng có thể gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới sớm hơn 2 năm, từ năm 2005, không chờ đến năm 2007. Ngoài ra, chúng ta ký nhiều hiệp định thương mại tự do nhưng chưa khai thác hết cơ hội; năng lực hội nhập quốc tế của doanh nghiệp tuy đã được nâng cao một bước nhưng vẫn còn bất cập, hạn chế. Nước ta cũng chưa tận dụng tốt cơ hội thu hút FDI khi có sự dịch chuyển lớn FDI từ một số nước trong khu vực như từ Thái Lan sau trận lũ lụt lịch sử năm 2011, từ Trung Quốc sau cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung năm 2017...Trong thời gian gần đây, mặc dù đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ, nhưng những cơ hội của từ Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chuyển đổi số, phát triển các ngành công nghiệp mới nổi… cũng chưa khai thác được nhiều.

Trong thời gian tới, để tận dụng tốt hơn các cơ hội lớn liên quan đến hội nhập quốc tế, thu hút FDI, tận dụng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như: (1) Đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đồng bộ, hiện đại và hội nhập quốc tế; (2) Chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để khai thác tốt các FTA mang lại, nhất là nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước; (3) Có chính sách hỗ trợ mạnh, nhanh, thông thoáng để thu hút các dự án FDI đặc biệt, quy mô lứn, tác động lan tỏa cao; (4) Đẩy nhanh hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, ưu tiên nguồn lực để phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cho phép thực hiện quy trình đặc biệt đối với các sản phẩm có tính chất mới, thử nghiệm có tiềm năng phát triển vượt bậc, tác động kinh tế, xã hội lớn; (5) Tập trung đào tạo nguồn nhân lực cho bán dẫn, AI, nhân lực phục vụ chuyển đổi số…; (6) Tận dụng quan hệ với các đối tác chiến lược, thường của các nước phát triển cho các quốc gia thân thiện, để đẩy mạnh thu hút, chuyển giao công nghệ.

Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu là chủ trương đúng được xác định từ Đại hội X của Đảng năm 2006, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, song chúng ta chưa có quốc sách thực sự, chưa dành đủ nguồn lực để thực hiện chủ trương này, nên kết quả đạt được còn hạn chế, chuyển biến còn chậm. Việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ chưa đầy đủ, đồng bộ; công tác quản lý nhà nước chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực chưa có thay đổi rõ rệt về chất lượng, chưa thực sự là động lực, là đột phá để phát triển kinh tế - xã hội; thiếu nhân lực trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao, các ngành phục vụ kinh tế số... Khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn khoảng cách so với nhóm các nước dẫn đầu khu vực. Hoạt động nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp ít được chú trọng. Để thực sự đưa giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước nhanh, bền vững, phải có cơ chế, chính sách đủ mạnh, ưu tiên tập trung đủ nguồn lực để tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện, hiệu quả, thực chất giáo dục - đào tạo từ nội dung chương trình, phương pháp dạy và học đến quản lý giáo dục đào tạo đạt trình độ quốc tế và khu vực. Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế cho những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mới nổi như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, chip bán dẫn, xây dựng, vận hành đường sắt cao tốc... Đào tạo, chuẩn bị nhân lực để thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, đưa Việt Nam tiến xa hơn trong kỷ nguyên số. Có chính sách trọng dụng nhân tài, tận dụng tốt nguồn nhân lực trẻ đóng góp cho đất nước.

Đối với khoa học và công nghệ, tập trung hoàn thiện pháp luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với cơ chế thị trường, thông lệ quốc tế, chấp nhận rủi ro và độ trễ; ưu tiên nguồn lực để nghiên cứu, phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới. Xây dựng, áp dụng cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát đối với một số dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, viện nghiên cứu, trường đại học là các chủ thể nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Phát huy hiệu quả mạng lưới kết nối nhân tài người Việt Nam trong và ngoài nước.

Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế được đặt ra từ Đại hội XII (năm 2016) của Đảng; tuy nhiên hiện nay lực lượng doanh nghiệp còn yếu và thiếu cả về số lượng và chất lượng; chủ yếu có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh, kỹ năng quản trị còn hạn chế. Thiếu các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân trong nước quy mô lớn có khả năng dẫn dắt và tạo lập, phát triển mạng lưới sản xuất, cung ứng. Liên kết, hợp tác sản xuất giữa khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, giữa các doanh nghiệp trong nước còn yếu… Để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, thúc đẩy tăng năng năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, cần xóa bỏ định kiến về doanh nghiệp, doanh nhân, đánh giá đúng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước. Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển, tạo niềm tin cho doanh nghiệp, người dân yên tâm, phấn khởi đầu tư sản xuất, kinh doanh. Thực hiện phân bổ và sử dụng nguồn lực phát triển theo cơ chế thị trường. Tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân trong nước trong tiếp cận vốn, đất đai, cung cấp dịch vụ công, các chính sách ưu đãi và nguồn lực khác. Hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận cơ sở hạ tầng nghiên cứu khoa học quan trọng của nhà nước. Có chính sách hỗ trợ để hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, quy mô lớn, đầu đàn để dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước và mở rộng, tham gia thị trường toàn cầu. Phát triển doanh nghiệp trong nước gắn với chuỗi liên kết của doanh nghiệp FDI. Xây dựng và triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế tập thể, hợp tác xã. Thay đổi cách thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm; thanh tra, kiểm tra chủ yếu là để hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ luật pháp.

Về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật kiến tạo phát triển:Đổi mới thể chế phát triển có lĩnh vực còn chậm; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa đồng bộ, đầy đủ để bảo đảm thị trường vận hành thông suốt, hiệu quả. Tư duy xây dựng pháp luật còn nặng về quản lý hơn là kiến tạo phát triển[2], nhất là đối với những vấn đề, mô hình kinh tế mới. Chất lượng pháp luật chưa cao; một số chính sách, pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu, chưa theo kịp với tình hình thực tiễn; còn tồn tại tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo trong một số văn bản pháp luật; việc áp dụng pháp luật đôi khi thiếu thống nhất. Nguyên nhân của tình trạng trên bao gồm: (i) Chậm đổi mới tư duy trong xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (ii) Trình độ, tính chuyên nghiệp của cán bộ và cơ quan xây dựng luật chưa cao, có lợi ích cục bộ, lợi ích ngành trong xây dựng pháp luật; (iii) Tính chuyên nghiệp của Quốc hội, đại biểu Quốc hội cần nâng cao hơn nữa; (iv) Quy trình xây dựng pháp luật bất cập; việc lấy ý kiến các cơ quan liên quan và đối tượng bị tác động mang tính hình thức; (v) Thiếu cơ quan tổng chỉ huy trong việc xây dựng, rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Trong thời gian tới cần tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phục vụ yêu cầu quản lý, vừa thúc đẩy phát triển, trong đó ưu tiên kiến tạo phát triển. Nâng cao trình độ, tính chuyên nghiệp của cán bộ và cơ quan xây dựng luật, của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Ban hành các quy định để sửa nhanh một số điều của luật bất cập, gây ách tắc, cản trở phát triển. Có cơ chế để thực sự phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng bị tác động tham gia xây dựng và giám sát thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Hình thành cơ quan chủ trì, tổng chỉ huy trong việc xây dựng, rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Về phân cấp, phân quyền: Phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương vẫn còn chưa khoa học, hiệu quả. Còn tình trạng tập trung nhiều ở trung ương; chưa phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương. Phân cấp, phân quyền chưa triệt để, chưa rõ trách nhiệm, còn nhiều vướng mắc, nhất là trong quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên, đầu tư, huy động nguồn lực. Mức độ trao quyền cho địa phương còn thấp, nhất là trong những lĩnh vực như: quy định chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng; quản lý khoáng sản là vật liệu thông thường; giao một địa phương làm cơ quan chủ quản thực hiện đầu tư các dự án giao thông đường bộ qua nhiều địa phương và sử dụng ngân sách của địa phương này hỗ trợ vốn cho địa phương khác; giao địa phương làm cơ quan chủ quản, sử dụng vốn ngân sách địa phương đầu tư thực hiện các nhiệm vụ, dự án thuộc thẩm quyền của bộ, cơ quan trung ương trên địa bàn, nhất là các dự án quốc lộ, cao tốc… Trong thời gian tới cần tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy để thực hiện phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc việc gì cấp dưới đảm nhiệm có hiệu quả thì cấp trên không làm, không bao biện làm thay. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa trung ương và địa phương, đề cao ý thức tự lực, tự cường của các địa phương; trung ương tập trung xây dựng thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát thực hiện.

Chi bộ Hòa An 1

×